| |
TS. Lê Thanh Hà
Viện Công nhân - Công đoàn
Trong những năm gần đây, số khu công nghiệp phát triển nhanh chóng nhưng điều kiện làm việc của công nhân, lao động lại ít được cải thiện. So với các các nước tiên tiến th́ phần lớn doanh nghiệp ở các khu công nghiệp Việt Nam, công nghệ, máy móc đă lạc hậu. Điều kiện làm việc của công nhân, lao động c̣n khó khăn, ảnh hưởng đến sức khỏe và năng suất lao động của công nhân.
Điều kiện làm việc của công nhân trong các khu công nghiệp
Qua khảo sát cho thấy, có nhiều yếu tố như tiếng ồn, nóng, bụi, ánh sáng, chất thải vượt mức quy định nhưng các doanh nghiệp ít đầu tư chi phí để khắc phục những yếu tố ảnh hưởng xấu đến môi trường. Theo số liệu điêu tra th́ thấy có 65,4% công nhân phải làm việc trong môi trường có tiếng ồn cao; 49% làm việc trong môi trường có nhiều bụi; 42% làm việc trong môi trường nóng bức; 24.6% làm việc trong môi trường có hóa chất, khí độc hại; vẫn c̣n gần 10% công nhân phải làm việc trong môi trường thiếu sáng.
Về các phương tiện phục vụ công nhân tại doanh nghiệp hầu hết các doanh nghiệp đều có nhà ăn tập thể, các công tŕnh vệ sinh, pḥng thay quần áo nhưng chưa sạch đẹp, hợp vệ sinh. Số doanh nghiệp có pḥng đọc sách báo; loa truyền thanh, bản tin nội bộ; nơi sinh hoạt tập thể, pḥng truyền thống doanh nghiệp, sân chơi thể dục, thể thao c̣n rất ít. Điều kiện làm việc của công nhân trong các loại h́nh doanh nghiệp ở khu công nghiệp là khá thấp kém. Số công nhân mắc bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động chưa giảm.
Phần lớn các doanh nghiệp đă có trang thiết bị bảo hộ lao động cho công nhân. Tuy nhiên vẫn c̣n 20,6% số công nhân chưa được cấp phát đầy đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân cần thiết; 17% số công nhân làm việc trong điều kiện máy móc không có trang thiết bị bảo hộ lao động. Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động không rơ nguồn gốc, chất lượng không đảm bảo. Mặc dù pháp luật đă quy định rơ ràng, phải trang bị đầy đủ các phương tiện cá nhân đúng quy định cho công nhân, nhưng hiện nay chúng ta chưa kiểm soát được chất lượng của các phương tiện này.
Việc khắc phục t́nh trạng ô nhiễm môi trường của các doanh nghiệp c̣n chậm. Theo kết quả điều tra, th́ có 17,5% doanh nghiệp đă khắc phục tốt; 30% khá; 43% trung b́nh và 7,9% khắc phục chưa tốt. Trung b́nh mỗi ngày có 1 triệu m3 nước thải công nghiệp thải ra môi trường từ 249 khu chế xuất, khu công nghiệp trên cả nước, nhưng chỉ một phần tư số lượng nước thải được xử lư. Đến cuối năm 2008, cả nước mới chỉ có 60 khu chế xuất, khu công nghiệp có nhà máy xử lư nước thải, với lượng nước được xử lư là 30%.
Ư thức chấp hành pháp luật, chấp hành nội quy về an toàn, vệ sinh lao động của công nhân trong các khu công nghiệp c̣n yếu. Hầu hết các doanh nghiệp đều có nội quy, quy định về chấp hành an toàn và vệ sinh lao động như: bắt buộc phải sử dụng dụng cụ bảo hộ lao động khi được trang bị; không được nói chuyện riêng, ăn quà trong giờ làm việc; vứt rác đúng nơi quy định; làm vệ sinh máy móc, nhà xưởng trước và sau giờ làm việc, có các quy định xử phạt khi công nhân không chấp hành. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp lại không quy định cụ thể, công khai việc doanh nghiệp có những đảm bảo, tiêu chuẩn chế độ nào đối với công nhân, như một tháng, một năm được trang bị những thứ ǵ, chất lượng ra sao, chất lượng máy móc nhà xưởng để bảo đảm an toàn, vệ sinh cho công nhân như thế nào.
Phần lớn đội ngũ công nhân trong các khu công nghiệp chủ yếu xuất thân từ nông thôn, trên 60% chưa qua đào tạo nghề ở các trường chuyên nghiệp, hiểu biết pháp luật thấp, ư thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp của công nhân chưa cao. V́ vậy, một số không ít công nhân nhận thức về tầm quan trọng của điều kiện và môi trường làm việc cũng như công tác an toàn, vệ sinh lao động chưa tốt. Nên khi được trang bị phương tiện bảo vệ các nhân nhưng công nhân cũng không sử dụng.
Các biện pháp cải thiện điều kiện làm việc của công nhân trong khu công nghiệp
Muốn cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân tại các khu công nghiệp cần thực hiện tốt các biện pháp sau đây:
Một là, các doanh nghiệp cần đầu tư đổi mới công nghệ, căn cứ vào yêu cầu của sản xuất kinh doanh và điều kiện cơ sở vật chất và vốn, t́m biện pháp chuyển đổi công nghệ phù hợp theo hướng hiện đại, nhằm khắc phục ảnh hưởng không tốt đến môi trường và sức khỏe công nhân. Có thể từng bước thay thế các khâu sản xuất nguy hiểm, không an toàn bằng những khâu ít nguy hiểm hơn hoặc tiến hành cơ giới hóa, tự động hóa các khâu đó. Hạn chế cấp phép thành lập doanh nghiệp ở những ngành gia công sử dụng công nghệ đă qua sử dụng, lạc hậu. Nhà nước cần ban hành tiêu chuẩn và xây dựng các trung tâm kiểm định về chất lượng, đánh giá sự tác động của máy móc, công nghệ tới môi trường và sức khỏe công nhân trong khu vực chịu ảnh hưởng.
Hai là, áp dụng kỹ thuật để bảo vệ người lao động, hạn chế tác động bởi các yếu tố nguy hiểm nảy sinh trong lao động. Với sự phát triển của khoa học công nghệ nói chung, nhiều phương tiện kỹ thuật, biện pháp thích hợp đă được nghiên cứu áp dụng. Có thể dùng một số biện pháp, phương tiện phổ biến như: Tạo các thiết bị che chắn phù hợp trong quá tŕnh vận hành và sử dụng máy móc, nhằm cách ly người công nhân ra khỏi vùng nguy hiểm, ngăn ngừa người công nhân có thể rơi vào vùng nguy hiểm khi vô ư va chạm, hoặc rơi, ngă văng bắn vào đó; Tạo và gắn các thiết bị bảo hiểm hay thiết bị pḥng ngừa vào máy móc, để vận hành thiết bị có thể ngăn chặn tác động xấu do sự cố xảy ra.
Ba là, cần trang bị phương tiện cá nhân được sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng của nhà nước, việc quản lư cấp phát sử dụng theo quy định của pháp luật. Người sử dụng lao động phải tiến hành kiểm tra chất lượng phương tiện bảo vệ cá nhân trước khi cấp phát và kiểm tra định kỳ theo tiêu chuẩn, người công nhân phải kiểm tra trước khi sử dụng. Đồng thời không ngừng đầu tư nghiên cứu có hiệu quả, nhằm nâng cao chất lượng và ứng dụng khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động, để chủ động cải thiện điều kiện làm việc, xử lư ô nhiễm môi trường lao động tại doanh nghiệp.
Bốn là, thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động. Các địa phương, ban quản lư khu công nghiệp, các doanh nghiệp cần tập trung chỉ đạo đồng bộ các hoạt động như: xây dựng nội quy bảo hộ lao động trong đó quy định cụ thể về nội dung an toàn và vệ sinh lao động, những quy định về quyền và trách nhiệm của công nhân và người sử dụng lao động. Thực hiện các biểu hiệu, biển báo, khẩu hiệu, tờ rơi, bản tin về an toàn vệ sinh lao động tại doanh nghiệp. Thường xuyên nhắc nhở động viên công nhân sử dụng có hiệu quả phương tiện pḥng hộ cá nhân; định kỳ cần tổng kết đánh giá công tác bảo hộ lao động, có các biện pháp xử lư những trường hợp vi phạm.
Năm là, phát huy vai tṛ các cấp công đoàn cơ sở trong việc thực hiện các quy định an toàn, vệ sinh lao động. Trước mắt, cần tăng cường tuyên truyền, thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng về t́nh h́nh tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, người sử dụng lao động, công đoàn cơ sở, người lao động trong công tác bảo hộ lao động, nhằm nâng cao nhận thức của mọi ngành, mọi người đối với công tác bảo hộ lao động. Chỉ đạo, hướng dẫn các cấp công đoàn tham gia và phối hợp, kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật, chế độ chính sách về bảo hộ lao động ở cơ sở. Chỉ đạo các cấp công đoàn, nhất là công đoàn cơ sở quan tâm đến nội dung này khi đại diện cho người lao động tham gia Hội đồng bảo hộ lao động, kư thoả ước lao động tập thể với chủ doanh nghiệp, chú trọng nội dung bảo hộ lao động; tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện kế hoạch bảo hộ lao động; xây dựng nội quy, quy tŕnh làm việc an toàn ở cơ sở; kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chế độ bảo hộ lao động đối với công nhân tại doanh nghiệp.
|
|