| |
Tai nạn lao động chết người ở mức cao tập trung ở địa phương nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất và doanh nghiệp khai thác mỏ, xây dựng.
Cũng thống kê từ 66 liên đoàn lao động tỉnh, thành phố, công đoàn ngành trung ương, công đoàn tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn, 10 tháng đầu năm 2010, cả nước đă xảy ra 254 vụ tai nạn lao động chết người làm 287 người chết, trong đó, có 9 vụ tan nạn giao thông làm 9 người chết được coi là tai nạn lao động.
Các cấp công đoàn cùng với chính quyền, cơ quan chức năng đă có nhiều giải pháp nhằm hạn chế tai nạn lao động, nhưng các vụ tai nạn lao động vẫn xảy ra với mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn, như: vụ tai nạn lao động ngày 13/4/2010 do nổ ḿn phá đá tại Hợp tác xă Minh Tâm (Hà Tĩnh) làm 2 người chết, 3 người bị thương; vụ tai nạn lao động ngày 9/5/2010 do nổ nồi hơi tại Công ty cổ phần chế biến thực phẩm Vĩnh Kiên (Kiên Giang) làm 3 người chết, 15 người bị thương; gần đây nhất là vụ bục nước ḷ ngày 12/11/2010 làm 3 người bị chết tại phân xưởng của Công ty Than Dương Huy (tỉnh Quảng Ninh)…
Các địa phương có số vụ tai nạn lao động chết người ở mức cao trong 10 tháng đầu năm 2010 vẫn là những địa phương tập trung nhiều khu công nghiệp, doanh nghiệp khai thác mỏ và xây dựng: Thành phố Hồ Chí Minh 52 vụ, 56 người chết; B́nh Dương 18 vụ, 24 người chết; Hà Nội 22 vụ, 24 người chết; Hải Pḥng 14 vụ, 17 người chết; Quảng Ninh 11 vụ, 13 người chết; Hải Dương 11 vụ, 12 người chết; Thái Nguyên 9 vụ, 9 người chết; Đồng Nai 7 vụ, 7 người chết; Bà Rịa-Vũng Tàu 7 vụ, 7 người chết. Ngành Xây dựng: 13 vụ, 19 người chết; Điện lực: 5 vụ, 6 người chết; Than-Khoáng sản: 4 vụ, 6 người chết.
Theo số liệu thống kê tai nạn lao động theo loại h́nh cơ sở cho thấy, tai nạn lao động chết người xảy ra nhiều ở các công ty cổ phần, công ty TNHH (bao gồm cả các doanh nghiệp chuyển đổi) chiếm 66,41%; doanh nghiệp tư nhân chiếm 13,28%; doanh nghiệp nhà nước chiếm 10,94%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 5,47%; các loại h́nh khác chiếm 3,9% (thực tế, tai nạn lao động ở khu vực kinh tế tư nhân và khu vực nông lâm thuỷ sản xảy ra rất nhiều nhưng không được báo cáo thống kê đầy đủ).
Phân tích số liệu tai nạn lao động chết người theo yếu tố gây chấn thương th́ số người chết do ngă chiếm 21,48%; do vật rơi, vùi dập chiếm 20,81%; do bị vấp ngă, va đập hoặc kẹp mắc giữa vật thể, máy thiết bị cán-kẹp-cuốn chiếm 16,78%; do bị văng bắn và bị bỏng từ những vụ nổ thiết bị áp lực, nổ vật liệu nổ và các loại hoá chất xăng dầu chiếm 14,45%; do điện giật hoặc bị điện cao áp phóng chiếm 9,40%; do t́nh trạng tiếp xúc với chất độc hại hoặc phóng xạ chiếm 7,38%...
Nguyên nhân xảy ra tai nạn lao động phổ biến vẫn là người sử dụng lao động không chấp hành đầy đủ các quy định pháp luật về an toàn vệ sinh lao động, không quan tâm tới việc cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo môi trường làm việc an toàn cho người lao động; không có bộ máy giám sát người lao động tuân thủ các quy định về bảo hộ lao động. Về phía người lao động nguyên nhân chủ yếu là do người lao động vi phạm các quy tŕnh, biện pháp làm việc an toàn; không ư thức được việc tự đảm bảo an toàn lao động cho ḿnh, cho những người làm việc xung quanh. Cơ quan quản lư nhà nước chưa kiểm tra thường xuyên, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng đă xảy ra; chế tài xử phạt chưa đủ mạnh dẫn đến t́nh trạng người sử dụng lao động, người lao động cố ư không chấp hành…
Để pḥng ngừa tai nạn lao động trong thời gian tới, về phía tổ chức Công đoàn cần củng cố lại bộ máy làm công tác bảo hộ lao động, tăng cường đào tạo huấn luyện nghiệp vụ cho cán bộ bảo hộ lao động. Công đoàn cấp trên phải trực tiếp tham gia và hướng dẫn các công đoàn cơ sở tham gia điều tra, kết luận đầy đủ và kịp thời tất cả các vụ tai nạn lao động theo qui định; kiên quyết kiến nghị xử lư nghiêm minh những trường hợp vi phạm pháp luật để xảy ra tai nạn lao động; thông báo các vụ tai nạn lao động, những nguy cơ tai nạn lao động cho các doanh nghiệp để có biện pháp pḥng ngừa…
H.Y
|
|